LỄ HỘI CẦU NGƯ LÀNG BÁCH LỘC

Đôi nét về làng Bách Lộc

Làng Bách Lộc là một đơn vị hành chính của xã Trung Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Làng Bách Lộc: Phía bắc giáp sông Bến Hải, phía nam giáp sông Cụt (bên kia sông là làng Thủy Khê), hai phía tây và đông tiếp giáp làng Xuân My.

Bách Lộc là một làng thành lập rất muộn so với các làng khác thuộc xã Trung Hải. Vào thời vua Thiệu Trị triều Nguyễn, có người họ Trần tên là Hiếu tập hợp các gia đình trong số 36 trợ đăng lại và chia thành bốn giáp: Đông – Tây – Nam – Bắc. Các giáp này là cơ sở để hình thành nên phường Bảo Lộc – đơn vị hành chính tập hợp các nhóm dân vạn chài sinh sống trên sông nước của cả khu vực dọc sông Minh Linh và Cánh Hòm. Trong bốn giáp của Bảo Lộc thì giáp Bắc được gọi là giáp Cái – nơi có mộ và miếu thờ của ông Trần Hiếu chính là cơ sở để hình thành nên thôn Bách Lộc sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thôn Bách Lộc hình thành trên đất đai của xóm Eo, làng Xuân My bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX và định hình chính thức thành một đơn vị cư trú – hành chính từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với tên gọi là thôn Bách Lộc.

Từ tháng 3-1946, thôn Bách Lộc thuộc xã Xuân Lộc; từ tháng 1-1947, thuộc xã Vĩnh Xuân, huyện Vĩnh Linh; đến tháng 9-1950 thì thuộc xã Vĩnh Liêm, huyện Vĩnh Linh. Từ tháng 7-1954, thôn Bách Lộc thuộc xã Trung Hải, quận Trung Lương và sau khi đất nước thống nhất thì thuộc xã Trung Hải, huyện Gio Linh cho đến tận ngày nay.

Bộ phận dân cư xuất hiện đầu tiên tại Bách Lộc thuộc về những người họ Ngô; nhưng công lao tạo lập nên làng Bách Lộc trước hết thuộc về ông Trần Hiếu, người được tôn phong là tiền khai khẩn của thôn Bách Lộc, tiếp theo là những người con dân thuộc họ Trương. Ngoài ra, các dòng họ khác như: Lê Hoàng, Nguyễn cũng đều là những họ tộc có công trong việc canh điền, lập ấp, xây dựng và phát triển thôn xóm qua nhiều thời kỳ cho đến tận ngày nay [1].

[1]

[1]

Lễ hội Cầu Ngư của làng Bách Lộc

Nằm ở vị trí sát bờ sông Bến Hải, địa hình thấp trũng có nhiều rào, hói, ao, đầm nhưng lại ở vào cuối nguồn nước của công trình hồ chứa Kinh Môn, nên người đân làng Bách Lộc gặp rất nhiều khó khăn trong việc sản xuất cây lúa! Hàng trăm năm qua, tận dụng nguồn nước tự có, người nông dân Bách Lộc chỉ gieo cấy được một vụ lúa với diện tích 30ha. Do đó, nghề khai thác tôm cá tự nhiên, nuôi trồng thủy hải sản theo dạng ao đìa, chuôm có một vị thế hết sức quan trọng trong đời sống của người dân Bách Lộc. Hàng năm với truyền thống lâu đời của địa phương, vào ngày rằm tháng Giêng (âm lịch) làng Bách Lộc lại tổ chức lể Cầu ngư mở đầu cho mùa đăng đèn đơm đó khai thác tôm cá trên sông, trên rào. Với mục đích cầu mong cho trời đất thuận hòa, cây cối tốt tươi, cá tôm phong phú để phục vụ cho cuộc sống của con người nên người dân làng Bách Lộc tổ chức lể Cầu ngư một cách rất thành kính. Trước đây lể Cầu ngư được tổ chức vào ngày mồng 5 tháng giêng âm lịch, nhưng từ sau giải phóng năm 1975 dân làng đã kết hợp lể Cầu ngư và Cầu yên thành một lể và được tổ chức ngày 15 tháng giêng âm lịch.

Lễ hội Cầu Ngư bắt nguồn từ câu chuyện kể rằng: Cách đây đã mấy trăm năm, dân làng Bách Lộc sống rất cơ cực vì thiếu nguồn nước để sản xuất cây lúa. Dân làng tha phương đi làm ăn khắp nơi, chỉ dịp tết âm lịch mới về làng. Nhiều người còn vào mãi vùng Thuận An thuộc Thừa Thiên Huế để làm ăn, năm ba năm mới về làng. Trong làng có một ông lão sống độc thân, thường gọi là ông Ngư. Ông Ngư không tha phương đi làm ăn như mọi người mà vẫn bám làng. Ông dựng chòi sống bằng nghề đìa cá. Một năm trời hạn lâu ngày, nước trong các rào hói, ao đìa khô cạn. Đìa của ông Ngư cũng không tránh khỏi tình trạng đó. Thương đàn cá quằn quại dưới đáy bùn nhão vì thiếu nước, hàng ngày ông Ngư phải cố sức qua làng bên xin từng ang nước đổ vào đìa cá. Nhưng do đường xa, sức yếu, trời lại nắng nóng, nên đến ang nước cuối cùng ông đã kiệt sức và qua đời bên đìa cá của mình. Cảm động trước tấm lòng của con người với chúng sinh, trời đã cho mưa xuống, nước nổi đầy đồng, cá tôm sinh sôi nảy nở nhiều vô kể. Dân làng tha phương đi làm ăn khắp nơi biết chuyện, tìm về làm đám ma cho ông Ngư và xây miếu thờ ông Ngư tại cồn đất nơi ông dựng lều sinh sống là Cồn Nghèng. Miếu thờ hiện nay vẫn còn, sau chiến tranh dân làng đã tổ chức trùng tu lại miếu, và hàng năm, đến ngày rằm tháng giêng dân làng lại tổ chức cúng bái, cầu xin ông Ngư phù hộ cho dân làng ăn nên làm ra. Lể cầu ngư làng Bách Lộc ra đời từ đó. Và ông Ngư được dân làng xem là vị Thành Hoàng có công khai canh nên làng làm lể rất to [2].

[2]

[2]

Lễ hội Cầu Ngư là lễ hội quan trọng nhất trong một năm của dân làng Bách Lộc, là lễ hội đặc trưng mang tính nhân văn cao cả, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một cộng đồng làng vì thế được tiến hành một cách quy mô và hết sức bài bản. Nghi lễ này tập hợp được toàn thể người dân trong làng tham gia.

* Giai đoạn 1: Công tác chuẩn bị

– Trang phục và dụng cụ của các bộ phận tế lễ:

+ Hội chủ mặc áo dài màu xanh, quần màu trắng, chân đi giày, đầu đội khăn đóng màu đen.

+ Các vị còn lại trong ban nghi lễ bao gồm cả đội nhạc cổ mặc áo dài màu đen, đầu đội khăn đóng màu đen.

* Giai đoạn 2: Cơ cấu lễ hội

Hồ Khánh Tâm

[2]

[2]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *