NGHỀ GIA CÔNG KIM HOÀN LÀNG AN XUÂN VÀ LÀNG PHÚ HẬU

An Xuân và Phú Hậu là hai ngôi làng nằm cạnh quốc lộ 1A và quốc lộ 9. Địa phận hành chính thuộc xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, cách trung tâm thành phố Đông Hà 3km về hướng Bắc; quá trình hình thành và phát triển cộng đồng làng đã tạo dựng nên các thiết chế văn hóa về tâm linh, tín ngưỡng như: đình, chùa, đền miếu, nhà thờ họ. Dưới thời các chúa Nguyễn quá trình di dân lập ấp vào miền đất mới của các nhóm dân Việt ra đi từ đất Bắc chính thức bắt đầu, nền văn hóa Việt, ngành nghề truyền thống được xác lập trên nền tảng thừa kế, giao lưu, hội nhập, một bộ phận lưu dân có gốc từ vùng Thanh Hóa – Nghệ An đến đây lập nghiệp và hình thành hai làng này; nghề gia công kim hoàn thâm nhập vào đời sống văn hóa, trở thành niềm ngưỡng vọng, tự hào của người dân Quảng Trị.

Nghề gia công kim hoàn là hành trang mang theo của các bậc tiền nhân làng An Xuân và Phú Hậu khi vào lập nghiệp ở vùng đất mới. Thế kỷ XVII -XVIII chúa Nguyễn đã cho mở mang, sửa sang lại đường sá, hệ thống các chợ được thiết lập đã thu hút được nhiều tư thương mua bán. Đây là nơi giao thương hàng hóa giữa miền núi với đồng bằng và miền biển, trong đó quan trọng là các trung tâm thương mại chợ Sòng, chợ Sãi, chợ Phiên…

Không phải là người đầu tiên tìm ra kỹ thuật gia công đồ kim hoàn, nhưng người dân hai làng An Xuân và Phú hậu có công lớn trong việc kết hợp khéo léo giữa đôi bàn tay, sự sáng tạo của trí tuệ, bí quyết riêng của bản thân với kỹ thuật làm kim hoàn cổ truyền để cho ra đời những sản phẩm hoàn thiện nhất. Họ không chỉ mang đến cho người sử dụng những món trang sức lộng lẫy sang trọng, quyến rũ cùng với thời trang của phái đẹp thời  xưa mà còn là nơi bảo lưu những nét tinh hoa cổ truyền, nơi để các nghệ nhân đua tài, khoe sắc, nơi giao lưu, học hỏi trao đổi kinh nghiệm trong quá trình lao động sáng tạo, cung cấp trao đổi hàng hóa cùng nhau quần tụ sinh sống những tháng năm nổi tiếng sầm uất của thương trường Quảng Trị.

Công cuộc tìm về với l

àng gia công kim hoàn An Xuân và Phú Hậu trên thực địa đã được cán bộ nghiên cứu Bảo tàng Quảng Trị chịu khó tìm tòi nghiên cứu thông tin của các bậc cao niên, căn cứ vào các tư liệu văn tự đi đến khẳng định đây là cái nôi của nghề gia công

kim hoàn,

chạm khảm

, bít

bạc vàng

ở các dụng cụ thờ cúng và đồ gia dụng của vùng đất Quảng Trị. Trãi

qua

một

thời gian

dài có nhiều

kinh nghiệm, miệt mài trong lao động họ làm ra rất nhiều sản phẩm phục vụ cho đời sống kinh tế, tín ngưỡng, tập quán của

Kinh/Việt, người Bru – Vân Kiều và Tà Ôi/Pa Cô. Sản phẩm của họ là

đồ trang sức lóng lánh, nhẫn đeo tay, kiềng, xuyến đeo cổ,

vòng đeo tay, bông tai

/

thòa

bên cạnh nghề truyền thống

gia công

kim hoàn, họ còn làm các đồ trang sức b

ng nhựa lược, kẹp tóc,

vòng tay. C

ác sản phẩm đem đi buôn bán tại  chợ Sòng, chợ Phiên, chợ Sãi. Nghề gia công kim hoàn ban đầu chỉ tổ chức chế tác theo hướng riêng lẽ ở một số dòng họ, về sau được truyền ra nhiều nơi trên địa bàn trong đó có làng Phú Hậu. Nhiều mặt hàng được thị trường chấp nhận và mở rộng địa bàn giao lưu, trao đổi không chỉ trong khu vực mà còn lên đến các dân tộc thiểu số và tận các bộ tộc Ai Lao/ Lào. Cho đến nay trong tâm thức của người dân An Xuân, Phú Hậu vẫn liên tưởng đến một miền quê sầm uất giao thương buôn bán kim hoàn trong các thế kỷ trước.

Nguyên liệu ngày xưa chủ yếu mua từ các thương gia buôn bán vàng, bạc, đồng thỏi, bạc trắng, bạc nén về để gia công. Người thợ thường sử dụng các loại dụng cụ như, cân tiểu ly, kính hiển vi, máy khò bằng than, máy mài, kéo, bay, chui, đục, dùi cui, mũi hàn, đèn cồn.

Nghề gia công vàng, bạc, bít bạc đồng đòi hỏi người làm nghề phải đam mê, có đôi mắt thẩm mỹ, kỹ thuật khéo léo, sáng tạo; vàng, bạc, đồng được nấu chảy bằng đèn khò và rót vào khuôn, nguyên liệu phải được chọn lựa kỷ, càng ít tạp chất, càng sạch càng tốt, sau đó nung chảy, nhiệt độ khoảng 1.200 độ C lúc này là thời điểm thích hợp để rót bạc, vàng, đồng vào khuôn khi rót phải từ từ đều tay liên tục đồng thời giữ được nhiệt độ cao trong khuôn. Đặc biệt, phải là những người thợ giàu kinh nghiệm dân gian mới có thể tạo ra được các sản phẩm bền đẹp và mang tính thẩm mỹ cao. So với nhiều ngành nghề thủ công truyền thống khác thì nghề gia công vàng, bạc, bít đồng trên các sản phẩm gốm khá phức tạp, phải trải qua khá nhiều thao tác và đúng quy trình, chỉ cần một lỗi nhỏ sản phẩm sẽ không sắc sảo thậm chí là hư hỏng.  

Giai đoạn tạo mẫu

: Đây là công việc đầu tiên của người thợ kim hoàn, những ý tưởng sơ khai nhất về một mẫu trang sức mới sẽ được hình thành, có thể tham khảo những sản phẩm có sẵn, để tạo cảm hứng cho mình. Sau khi đã có một hướng đi rõ ràng, các mẫu này được đưa vào khuôn với đúng tỉ lệ và kích thước mà người đặt hàng yêu cầu.

Đầu tiên, họ sẽ vạch dấu trên bề mặt của khuôn, tạo kích thước và hình dáng tổng thể chi tiết. Khuôn có rất nhiều hình dạng, đối với dây chuyền, thợ sẽ gia công trực tiếp khi vàng đang nung ở nhiệt độ cao, kéo thành sợi nhỏ mảnh cắt khúc ngắn, rồi uốn từng khoen, nối từng khoen lại với nhau thành một sợi dài. Với nhẫn, bông tai hay vòng, người thợ sẽ được tạo ra từ một loại khuôn dạng ống trụ. Khi gia công chi tiết đồ trang sức cầu kỳ, thợ có thể dùng tay nhưng thường là dùng máy tiện cỡ nhỏ, quay máy tiện bằng tay. Người thợ thường xuyên đo và chỉnh dao để đảm bảo độ chính xác kích thước. Để tăng độ dẻo hoặc muốn sửa lại chi tiết, có thể cho thêm nhiệt bằng cách hơ nóng đầu mũi hàn bằng ngọn lửa đèn cồn, sau đó chấm vào chi tiết cần chỉnh sửa.

Giai đoạn nhận hạt/vào đá:

Nhận hạt là cẩn đá quý vào giá đỡ, hay ổ hạt. Đối với những chi tiết nhỏ như thế, cần phải có lực tác dụng thật mạnh thì đá mới vào được ổ, mới nhận được hạt đá. Do đó, người ta cần một dụng cụ để định vị cố định trang sức lại mới nhận hạt vào được. Trang sức sẽ được định vị vào một loại sáp định vị – thường được gọi là “khằn”. Khằn bên ngoài ta thấy đó là một chất màu đỏ sậm, khi hơ lửa thì trở nên rất nóng và tan chảy ra. Lấy ống phụt khò lửa vào đó cho thật nóng rồi mới đưa mẫu trang sức vào, sao cho mặt cần nhận hạt quay lên phía trên. Đợi một lúc cho khằn thật cứng và mẫu trang sức được định vị vững trong khằn, khi đó thợ có thể yên tâm cẩn hạt vào. Hạt được cẩn vào các loại trang sức có thể là hạt xoàn, đá, mã não, nhựa thủy tinh… và có nhiều màu tùy thuộc vào ý thích của khách hàng để người thợ sử dụng trong lúc nhận hạt.

Nhận hạt/vào đá là một khâu quan trọng quyết định đến độ đẹp và phản chiếu của đá trên sản phẩm. Đặc biệt là những loại đá có giá trị đòi hỏi người thợ có tay nghề và kinh nghiệm cao trong chế tác kim hoàn.

Giai đoạn làm nguội:

Có thể nói, đây là một công đoạn hết sức phức tạp và đóng vai trò rất quan trọng, quyết định việc tạo hình hoàn chỉnh về tổng thể lẫn chi tiết cho món trang sức. Kết thúc quá trình đúc ta thu được thành phẩm là những mẫu trang sức nhưng bề ngoài chúng còn rất thô sơ, xấu xí và đen xỉ, cần phải trãi qua giai đoạn làm nguội này để trở nên đẹp và tinh tế hơn. Nhiệm vụ của giai đoạn này thuộc về những người thợ bạc, họ phải dùng bàn tay khéo léo và kỹ thuật tỉ mỹ của mình để hoàn chỉnh hình dáng cũng như chăm chút từng chi tiết cho trang sức với các thao tác gọt, giũa, cạo, chà nhám, mài, khoan hay hàn.

Để làm đẹp cho sản phẩm, thợ vàng bạc phải chọn dũa có kích cỡ, cỡ răng, thiết diện có loại tròn, vuông, chữ nhật, tam giác… để phù hợp với món trang sức cần dũa. Để làm sạch giũa sau khi gia công xong, người thợ có thể dùng xăng để rửa, nhưng không được phép dùng dầu. Ngoài ra, dũa cũng phải được đặt cách xa các hơi nóng, như mỏ hàn, lò nung, đèn cồn… Trong quá trình mài dũa sẽ xuất hiện các vết trầy xước, công đoạn này, người thợ bạc phải dùng giấy nhám với các kích cỡ, độ dày, mỏng khác nhau để loại bỏ các vết xước làm cho sản phẩm bóng đẹp hơn.

Ngoài việc gia công tạo tác các mặt hàng trang sức, các kíp thợ còn bít vàng bạc, bít  đồng trên các sản phẩm gốm sứ và đồ thờ cúng. Vàng, bạc sau khi được nấu chảy đổ ra khuôn thành từng miếng dùng miếng vàng, bạc đặt lên đe, lấy búa dập để kéo dài ra, càng dài càng tốt sau đó cắt thành từng tấm nhỏ theo kích thước đã định, dàn ra 4 phía không được để rách, phải đánh liên tục 3-4 tiếng đồng hồ, đập đều tay đây là công đoạn khó nhất; một chỉ vàng, bạc có thể đập dẹp diện tích 1m2, người thợ tinh vi khéo tay dùng chiếc bay nhỏ nhẹ nhàng xếp các miếng vàng, bạc đã dát mõng đặt vào chổ cần bít như các đồ thờ cúng, nậm rót rượu, đồ gia dụng chén, đũa, bộ ấm trà, vòng đeo tay, kiềng tay, kiềng đeo cổ, vòng mã não, bông tai (thòa) các loại đá quý… viền mép, tán đinh cho thật chắc chắn.

Nguyễn Thị Cẩm Lệ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *